Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

[Kinh tế] -Kết quả nổi bật của kinh tế đối ngoại

(Chinhphu.vn) - Kết quả nổi bật nhất trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại là xuất khẩu. Trong 7 tháng đầu năm 2014, quy mô xuất khẩu hàng hóa đạt cao nhất so với cùng kỳ từ trước tới nay.

Trong điều kiện thông tin của 7 tháng, người viết chỉ đề cập các chỉ tiêu xuất nhập khẩu hàng hóa, khách quốc tế đến Việt Nam, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Các chỉ số thống kê cho thấy, tốc độ tăng/giảm các chỉ tiêu trên trong 7 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước (%) như sau:


Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê

Kết quả nổi bật nhất là xuất khẩu, khi quy mô xuất khẩu hàng hóa 7 tháng đầu năm ước đạt 83,5 tỷ USD, cao nhất so với cùng kỳ từ trước tới nay, cao hơn quy mô cả năm từ 2010 trở về trước.

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế (6 tháng cao gấp trên 2,9 lần, 7 tháng có chậm lại một chút).

Tăng trưởng xuất khẩu đạt được ở cả hai khu vực. Khu vực kinh tế trong nước đã tăng 12,2%, cao hơn các năm trước, chứng tỏ khu vực này đã có sự nỗ lực lớn hơn trong việc giành thị phần, tranh thủ cơ hội khi Việt Nam thực hiện cam kết mở cửa, hội nhập sâu rộng hơn. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục đạt quy mô lớn hơn khu vực kinh tế trong nước cả về quy mô tuyệt đối (55,8 tỷ USD so với 27,7 tỷ USD), cả về tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (15% so với 12,2%).

Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt được ở nhiều mặt hàng, trong đó tăng cao hơn tốc độ chung có hóa chất; hạt tiêu; máy ảnh, máy quay phim; đồ chơi;, dụng cụ thể thao và bộ phận; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù; thủy sản; hàng rau quả; clinke và xi măng; kim loại thường và sản phẩm; cà phê; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; giày dép; thức ăn gia súc và nguyên liệu; sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ; xơ sợi dệt các loại; hàng dệt may; sản phẩm hóa chất; hạt điều; gỗ và sản phẩm gỗ; điện thoại các loại và linh kiện...

Qua 7 tháng, đã có 16 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên (điện thoại các loại và linh kiện; hàng dệt may; giày dép; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; dầu thô; thủy sản; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác; gỗ và sản phẩm gỗ; phương tiện vận tải và phụ tùng; cà phê; gạo; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù; xơ sợi dệt các loại; sản phẩm từ chất dẻo; sắt thép các loại; hạt điều). Mới qua 7 tháng đã có 2 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD (điện thoại các loại và linh kiện đạt 13,2 tỷ USD, dệt may đạt 11,5 tỷ USD).

Cơ cấu xuất khẩu có sự chuyển dịch tích cực: Tỷ trọng nguyên liệu thô, sản phẩm chưa qua chế biến hay mới qua sơ chế giảm, tỷ trọng sản phẩm chế biến tăng, tỷ trọng hàng hóa có kỹ thuật-công nghệ cao tăng.

Do xuất khẩu cao hơn nhập khẩu cả về quy mô tuyệt đối (83,5 tỷ USD so với 82,2 tỷ USD), cả về tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (14,1% so với 11,4%), nên trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, nếu cùng kỳ năm trước Việt Nam ở vị thế nhập siêu (610 triệu USD), thì 7 tháng năm nay đã chuyển sang vị thế xuất siêu (1,3 tỷ USD). Đây là một trong những yếu tố góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, tăng tính thanh khoản quốc gia.

Kết quả xuất khẩu 7 tháng là tín hiệu khả quan để cả năm có thể vượt kế hoạch đề ra cả về quy mô (đạt trên 150 tỷ USD so với 145,4 tỷ USD), cả về cân đối thương mại (không những không nhập siêu với tỷ lệ 6% hay trên 8,7 tỷ USD, như mục tiêu mà có thể còn xuất siêu và đây là năm thứ 3 liên tiếp xuất siêu). Nếu dự đoán trên đúng, thì năm 2014 sẽ đạt kỷ lục mới về xuất khẩu bình quân đầu người (trên 1.670 USD so với 1.473 USD), về tỷ lệ xuất khẩu/GDP (gần 80% so với 77%).

Tuy đạt được nhiều kết quả tích cực như trên, nhưng trong lĩnh vực xuất khẩu cũng còn những hạn chế bất cập và đứng trước những thách thức không nhỏ. Hiệu quả và sức cạnh tranh hàng xuất khẩu của Việt Nam còn thấp, nhiều loại không có thương hiệu riêng. Tính gia công của sản xuất còn cao, nên nhập khẩu nhiều nguyên phụ liệu... Xuất siêu là dấu hiệu cải thiện cán cân thương mại, nhưng từ 3 năm nay có một yếu tố quan trọng tác động là tổng cầu yếu. Bên cạnh một số thị trường mà Việt Nam xuất siêu lớn, còn có một số thị trường Việt Nam nhập siêu lớn (Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan).

Về chỉ tiêu khách quốc tế đến Việt Nam (qua chỉ tiêu này có thể ước tính lượng ngoại tệ thu được - một nội dung quan trọng của xuất khẩu dịch vụ du lịch), tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 7 tháng đầu năm ước đạt trên 4,85 triệu lượt người, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Đó là tốc độ tăng khá cao so với các chỉ số tương ứng trong cùng thời gian của các ngành, lĩnh vực. Tăng trưởng cao đạt được ở cả 4 mục đích đến (du lịch, thăm thân, làm việc, mục đích khác).

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến 20/7 có 889 dự án được cấp phép mới, với số vốn đăng ký hơn 6,858 tỷ USD, tăng 17,7% về số dự án và giảm 0,9% về số vốn đăng ký. Có 44 địa phương có dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới, trong đó lớn nhất là Bắc Ninh, tiếp đến là TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Hải Dương.

Có 44 nước và vùng lãnh thổ có dự án cấp mới, lớn nhất là Hàn Quốc, tiếp đến là Hong Kong, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Indonesia, quần đảo Virgin thuộc Anh.

Nếu kể cả hơn 2,677 tỷ USD của 300 lượt dự án cũ được cấp bổ sung vốn thì tổng số vốn FDI đăng ký đạt 9,536 tỷ USD, giảm 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng lượng vốn trên, lớn nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt hơn 6,662 tỷ USD, chiếm 69,9% tổng số, tiếp đến là ngành kinh doanh bất động sản đạt khoảng 1,130 tỷ USD, chiếm 11,9%, ngành xây dựng đạt 547,6 triệu USD, chiếm 5,7%, các ngành còn lại đạt 1.196 triệu USD, chiếm 12,5%.

Lượng vốn thực hiện ước đạt 6,8 tỷ USD, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước.

Kết quả 7 tháng đã đưa tổng lượng vốn FDI đăng ký từ 1988 đến nay đạt khoảng 233,5 tỷ USD; lượng vốn thực hiện đạt khoảng 118,5 tỷ USD.

Mặc dù từ đầu tháng 5 diễn biến phức tạp trên Biển Đông đã tác động ít nhiều đến một số chỉ tiêu kinh tế đối ngoại, nhưng đến nay có thể nhận thấy tác động không lớn, vẫn kỳ vọng đạt được kết quả tích cực trong cả năm.

Minh Ngọc


0 nhận xét:

Đăng nhận xét